Hiển thị các bài đăng có nhãn quy hoach. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quy hoach. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 8 tháng 11, 2011

Ông Hoàng Trung Hải chủ trì cuộc họp Điều chỉnh quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp


Thực tiễn sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông lâm thủy sản đang đặt ra yêu cầu điều chỉnh tổng thể quy hoạch nông nghiệp.

Chiều 8/11, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì cuộc họp với các Bộ, ngành liên quan nhằm rà soát, cho ý kiến xây dựng Dự án điều chỉnh, bổ sung tổng thể Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

images583258 22 Ông Hoàng Trung Hải chủ trì cuộc họp Điều chỉnh quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải

Tăng trưởng nhưng chưa bền vững

Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kết quả sản xuất giai đoạn 2006 – 2010 cho biết, nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả.

Tốc độ tăng trưởng chung toàn ngành đạt 3,36% (vượt mục tiêu đề ra là 3-3,2%) trồng trọt tăng 3,6%/năm (mục tiêu đề ra 2,7%). Diện tích đất lúa giảm 63.000 ha nhưng nhờ tăng vụ nên diện tích gieo trồng vẫn đạt 7,5 triệu ha, năng suất tăng từ 4,3 tạ/ha (2005) lên 5,32 tạ/ha, đạt sản lượng 40 triệu tấn năm 2010, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và gia tăng xuất khẩu.

Sản lượng, diện tích hoa màu tăng trưởng đều cao: ngô đạt 1,1 triệu ha, sản lượng 833.000 tấn/năm, rau các loại tăng từ 676.000 lên 780.000 ha, sản lượng từ 10 lên 13 triệu tấn. Cây công nghiệp có mức tăng khá, được giá nên mỗi năm trồng thêm được 73.000 ha, nhất là cao su (tăng 56%), cà phê (tăng 47%), chè (tăng 44,5%),…

Giá trị thực tế sản phẩm trồng trọt đã tăng từ 14,3 triệu đồng năm 2005 lên 35 triệu đồng/ha năm 2010.

NNVN Ông Hoàng Trung Hải chủ trì cuộc họp Điều chỉnh quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp

Hướng đi tất yếu trong nông nghiệp hiện nay là áp dụng mạnh mẽ hơn khoa học công nghệ, công nghệ xanh, các phương pháp, kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến để vừa đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ, vừa đạt hiệu quả bền vững.

Trong khi đó, ngành chăn nuôi tuy gặp nhiều khó khăn như dịch bệnh diễn biến phức tạp, giá thức ăn cao nhưng giá trị sản xuất vẫn tăng 7,5%/năm. Năm 2010, cả nước có 2,9 triệu con trâu, 5,9 triệu bò, 27,4 triệu lợn, trên 300 triệu gia cầm,…

Ngành thủy sản chiếm tỷ trọng 21,1% trong tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản, tăng bình quân 8%/năm. Năm 2010, số lượng tàu đánh bắt xa bờ tăng lên 25.346 chiếc với tổng công suất 4,5 triệu CV. Sản lượng khai thác thủy sản đạt 2,4 triệu tấn, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 2,7 triệu tấn/năm.

Ngành lâm nghiệp đạt mức tăng trưởng bình quân 3%/năm (vượt chỉ tiêu đề ra là 2,3%). Diện tích rừng trồng mới đạt 1,09 triệu ha, rừng khoanh nuôi đạt 922.768 ha, rừng được khoán bảo vệ 2,5 triệu ha. Độ che phủ rừng tăng từ 37,1% lên 39,5%.

Tuy nhiên, bức tranh toàn cảnh ngành nông nghiệp vẫn cho thấy nhiều tồn tại, bất cập. Nền nông nghiệp vẫn mang tính chất của nền sản xuất quy mô nhỏ. Cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp chuyển dịch chậm, công nghiệp chế biến phát triển yếu, tự phát, có nguy cơ kém bền vững.

Xác định “dư địa” chính để thúc đẩy

Thực hiện mục tiêu tổng quát được Đảng, Nhà nước xác định là xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, ngành nông nghiệp đề ra các chỉ tiêu cụ thể. Đến năm 2020, tốc độ tăng trưởng nông lâm thủy sản đạt bình quân 3,5-4%/năm, giá trị sản xuất tăng 4,3-4,7%/năm, độ che phủ rừng đạt 44-45%, kim ngạch xuất khẩu đạt 30 tỷ USD, giá trị sản lượng trên 1ha sản xuất đạt 70 triệu đồng.

Để thực hiện mục tiêu này, các nhà hoạch định đang triển khai xây dựng phân bổ sử dụng đất, điều chỉnh diện tích sản xuất đối với cây hàng năm, đất lúa, đồng cỏ, cây lâu năm, cây công nghiệp; đất lâm nghiệp; đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối,…, cùng với việc điều chỉnh hướng phát triển từng ngành.

Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nêu rõ những yêu cầu trong định hướng phát triển ngành nông nghiệp, trong điều kiện bối cảnh kinh tế – xã hội có nhiều thay đổi, tình trạng biến đổi khí hậu tác động mạnh, thế giới có nhu cầu cao, khắt khe hơn về các sản phẩm nông, lâm, thủy sản.

Ghi nhận những bước phát triển của ngành trong thời gian qua nhưng Phó Thủ tướng cho rằng, để hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện, hiện đại, bền vững và sản xuất hàng hóa lớn, các nhà xây dựng quy hoạch mới cần phân tích, chỉ rõ những “dư địa”, tiềm năng phát triển chính của ngành nông nghiệp. Nói cách khác, cần phát huy được các lợi thế so sánh, áp dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp Việt Nam.

Bên cạnh việc chuyển dịch hợp lý cơ cấu, diện tích sản xuất từng ngành hàng, khả năng thâm canh, tăng vụ, chế biến,… cần xác định hướng đi tất yếu hiện nay là áp dụng mạnh mẽ hơn khoa học công nghệ, công nghệ xanh, các phương pháp, kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến để vừa đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ, vừa đạt hiệu quả bền vững.

Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương hoàn thành báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược, chiến lược phát triển ngành để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định. Cùng với đó, rà soát số liệu, tăng cường năng lực hệ thống thông tin, số liệu dự báo ngành để cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết về sản xuất, giá cả thị trường cho doanh nghiệp và người dân.

Nguyên Linh

(Theo CAND)


(Theo website Hoàng Trung Hải)

Ông Hoàng Trung Hải chủ trì cuộc họp Điều chỉnh quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp


Thực tiễn sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông lâm thủy sản đang đặt ra yêu cầu điều chỉnh tổng thể quy hoạch nông nghiệp.

Chiều 8/11, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì cuộc họp với các Bộ, ngành liên quan nhằm rà soát, cho ý kiến xây dựng Dự án điều chỉnh, bổ sung tổng thể Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

images583258 22 Ông Hoàng Trung Hải chủ trì cuộc họp Điều chỉnh quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải

Tăng trưởng nhưng chưa bền vững

Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kết quả sản xuất giai đoạn 2006 – 2010 cho biết, nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả.

Tốc độ tăng trưởng chung toàn ngành đạt 3,36% (vượt mục tiêu đề ra là 3-3,2%) trồng trọt tăng 3,6%/năm (mục tiêu đề ra 2,7%). Diện tích đất lúa giảm 63.000 ha nhưng nhờ tăng vụ nên diện tích gieo trồng vẫn đạt 7,5 triệu ha, năng suất tăng từ 4,3 tạ/ha (2005) lên 5,32 tạ/ha, đạt sản lượng 40 triệu tấn năm 2010, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và gia tăng xuất khẩu.

Sản lượng, diện tích hoa màu tăng trưởng đều cao: ngô đạt 1,1 triệu ha, sản lượng 833.000 tấn/năm, rau các loại tăng từ 676.000 lên 780.000 ha, sản lượng từ 10 lên 13 triệu tấn. Cây công nghiệp có mức tăng khá, được giá nên mỗi năm trồng thêm được 73.000 ha, nhất là cao su (tăng 56%), cà phê (tăng 47%), chè (tăng 44,5%),…

Giá trị thực tế sản phẩm trồng trọt đã tăng từ 14,3 triệu đồng năm 2005 lên 35 triệu đồng/ha năm 2010.

NNVN Ông Hoàng Trung Hải chủ trì cuộc họp Điều chỉnh quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp

Hướng đi tất yếu trong nông nghiệp hiện nay là áp dụng mạnh mẽ hơn khoa học công nghệ, công nghệ xanh, các phương pháp, kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến để vừa đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ, vừa đạt hiệu quả bền vững.

Trong khi đó, ngành chăn nuôi tuy gặp nhiều khó khăn như dịch bệnh diễn biến phức tạp, giá thức ăn cao nhưng giá trị sản xuất vẫn tăng 7,5%/năm. Năm 2010, cả nước có 2,9 triệu con trâu, 5,9 triệu bò, 27,4 triệu lợn, trên 300 triệu gia cầm,…

Ngành thủy sản chiếm tỷ trọng 21,1% trong tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản, tăng bình quân 8%/năm. Năm 2010, số lượng tàu đánh bắt xa bờ tăng lên 25.346 chiếc với tổng công suất 4,5 triệu CV. Sản lượng khai thác thủy sản đạt 2,4 triệu tấn, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 2,7 triệu tấn/năm.

Ngành lâm nghiệp đạt mức tăng trưởng bình quân 3%/năm (vượt chỉ tiêu đề ra là 2,3%). Diện tích rừng trồng mới đạt 1,09 triệu ha, rừng khoanh nuôi đạt 922.768 ha, rừng được khoán bảo vệ 2,5 triệu ha. Độ che phủ rừng tăng từ 37,1% lên 39,5%.

Tuy nhiên, bức tranh toàn cảnh ngành nông nghiệp vẫn cho thấy nhiều tồn tại, bất cập. Nền nông nghiệp vẫn mang tính chất của nền sản xuất quy mô nhỏ. Cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp chuyển dịch chậm, công nghiệp chế biến phát triển yếu, tự phát, có nguy cơ kém bền vững.

Xác định “dư địa” chính để thúc đẩy

Thực hiện mục tiêu tổng quát được Đảng, Nhà nước xác định là xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, ngành nông nghiệp đề ra các chỉ tiêu cụ thể. Đến năm 2020, tốc độ tăng trưởng nông lâm thủy sản đạt bình quân 3,5-4%/năm, giá trị sản xuất tăng 4,3-4,7%/năm, độ che phủ rừng đạt 44-45%, kim ngạch xuất khẩu đạt 30 tỷ USD, giá trị sản lượng trên 1ha sản xuất đạt 70 triệu đồng.

Để thực hiện mục tiêu này, các nhà hoạch định đang triển khai xây dựng phân bổ sử dụng đất, điều chỉnh diện tích sản xuất đối với cây hàng năm, đất lúa, đồng cỏ, cây lâu năm, cây công nghiệp; đất lâm nghiệp; đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối,…, cùng với việc điều chỉnh hướng phát triển từng ngành.

Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nêu rõ những yêu cầu trong định hướng phát triển ngành nông nghiệp, trong điều kiện bối cảnh kinh tế – xã hội có nhiều thay đổi, tình trạng biến đổi khí hậu tác động mạnh, thế giới có nhu cầu cao, khắt khe hơn về các sản phẩm nông, lâm, thủy sản.

Ghi nhận những bước phát triển của ngành trong thời gian qua nhưng Phó Thủ tướng cho rằng, để hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện, hiện đại, bền vững và sản xuất hàng hóa lớn, các nhà xây dựng quy hoạch mới cần phân tích, chỉ rõ những “dư địa”, tiềm năng phát triển chính của ngành nông nghiệp. Nói cách khác, cần phát huy được các lợi thế so sánh, áp dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp Việt Nam.

Bên cạnh việc chuyển dịch hợp lý cơ cấu, diện tích sản xuất từng ngành hàng, khả năng thâm canh, tăng vụ, chế biến,… cần xác định hướng đi tất yếu hiện nay là áp dụng mạnh mẽ hơn khoa học công nghệ, công nghệ xanh, các phương pháp, kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến để vừa đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ, vừa đạt hiệu quả bền vững.

Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương hoàn thành báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược, chiến lược phát triển ngành để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định. Cùng với đó, rà soát số liệu, tăng cường năng lực hệ thống thông tin, số liệu dự báo ngành để cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết về sản xuất, giá cả thị trường cho doanh nghiệp và người dân.

Nguyên Linh

(Theo CAND)


(Theo website Hoàng Trung Hải)

Ông Hoàng Trung Hải chủ trì cuộc họp Điều chỉnh quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp


Thực tiễn sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông lâm thủy sản đang đặt ra yêu cầu điều chỉnh tổng thể quy hoạch nông nghiệp.

Chiều 8/11, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì cuộc họp với các Bộ, ngành liên quan nhằm rà soát, cho ý kiến xây dựng Dự án điều chỉnh, bổ sung tổng thể Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

images583258 22 Ông Hoàng Trung Hải chủ trì cuộc họp Điều chỉnh quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải

Tăng trưởng nhưng chưa bền vững

Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kết quả sản xuất giai đoạn 2006 – 2010 cho biết, nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả.

Tốc độ tăng trưởng chung toàn ngành đạt 3,36% (vượt mục tiêu đề ra là 3-3,2%) trồng trọt tăng 3,6%/năm (mục tiêu đề ra 2,7%). Diện tích đất lúa giảm 63.000 ha nhưng nhờ tăng vụ nên diện tích gieo trồng vẫn đạt 7,5 triệu ha, năng suất tăng từ 4,3 tạ/ha (2005) lên 5,32 tạ/ha, đạt sản lượng 40 triệu tấn năm 2010, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và gia tăng xuất khẩu.

Sản lượng, diện tích hoa màu tăng trưởng đều cao: ngô đạt 1,1 triệu ha, sản lượng 833.000 tấn/năm, rau các loại tăng từ 676.000 lên 780.000 ha, sản lượng từ 10 lên 13 triệu tấn. Cây công nghiệp có mức tăng khá, được giá nên mỗi năm trồng thêm được 73.000 ha, nhất là cao su (tăng 56%), cà phê (tăng 47%), chè (tăng 44,5%),…

Giá trị thực tế sản phẩm trồng trọt đã tăng từ 14,3 triệu đồng năm 2005 lên 35 triệu đồng/ha năm 2010.

NNVN Ông Hoàng Trung Hải chủ trì cuộc họp Điều chỉnh quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp

Hướng đi tất yếu trong nông nghiệp hiện nay là áp dụng mạnh mẽ hơn khoa học công nghệ, công nghệ xanh, các phương pháp, kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến để vừa đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ, vừa đạt hiệu quả bền vững.

Trong khi đó, ngành chăn nuôi tuy gặp nhiều khó khăn như dịch bệnh diễn biến phức tạp, giá thức ăn cao nhưng giá trị sản xuất vẫn tăng 7,5%/năm. Năm 2010, cả nước có 2,9 triệu con trâu, 5,9 triệu bò, 27,4 triệu lợn, trên 300 triệu gia cầm,…

Ngành thủy sản chiếm tỷ trọng 21,1% trong tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản, tăng bình quân 8%/năm. Năm 2010, số lượng tàu đánh bắt xa bờ tăng lên 25.346 chiếc với tổng công suất 4,5 triệu CV. Sản lượng khai thác thủy sản đạt 2,4 triệu tấn, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 2,7 triệu tấn/năm.

Ngành lâm nghiệp đạt mức tăng trưởng bình quân 3%/năm (vượt chỉ tiêu đề ra là 2,3%). Diện tích rừng trồng mới đạt 1,09 triệu ha, rừng khoanh nuôi đạt 922.768 ha, rừng được khoán bảo vệ 2,5 triệu ha. Độ che phủ rừng tăng từ 37,1% lên 39,5%.

Tuy nhiên, bức tranh toàn cảnh ngành nông nghiệp vẫn cho thấy nhiều tồn tại, bất cập. Nền nông nghiệp vẫn mang tính chất của nền sản xuất quy mô nhỏ. Cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp chuyển dịch chậm, công nghiệp chế biến phát triển yếu, tự phát, có nguy cơ kém bền vững.

Xác định “dư địa” chính để thúc đẩy

Thực hiện mục tiêu tổng quát được Đảng, Nhà nước xác định là xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, ngành nông nghiệp đề ra các chỉ tiêu cụ thể. Đến năm 2020, tốc độ tăng trưởng nông lâm thủy sản đạt bình quân 3,5-4%/năm, giá trị sản xuất tăng 4,3-4,7%/năm, độ che phủ rừng đạt 44-45%, kim ngạch xuất khẩu đạt 30 tỷ USD, giá trị sản lượng trên 1ha sản xuất đạt 70 triệu đồng.

Để thực hiện mục tiêu này, các nhà hoạch định đang triển khai xây dựng phân bổ sử dụng đất, điều chỉnh diện tích sản xuất đối với cây hàng năm, đất lúa, đồng cỏ, cây lâu năm, cây công nghiệp; đất lâm nghiệp; đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối,…, cùng với việc điều chỉnh hướng phát triển từng ngành.

Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nêu rõ những yêu cầu trong định hướng phát triển ngành nông nghiệp, trong điều kiện bối cảnh kinh tế – xã hội có nhiều thay đổi, tình trạng biến đổi khí hậu tác động mạnh, thế giới có nhu cầu cao, khắt khe hơn về các sản phẩm nông, lâm, thủy sản.

Ghi nhận những bước phát triển của ngành trong thời gian qua nhưng Phó Thủ tướng cho rằng, để hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện, hiện đại, bền vững và sản xuất hàng hóa lớn, các nhà xây dựng quy hoạch mới cần phân tích, chỉ rõ những “dư địa”, tiềm năng phát triển chính của ngành nông nghiệp. Nói cách khác, cần phát huy được các lợi thế so sánh, áp dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp Việt Nam.

Bên cạnh việc chuyển dịch hợp lý cơ cấu, diện tích sản xuất từng ngành hàng, khả năng thâm canh, tăng vụ, chế biến,… cần xác định hướng đi tất yếu hiện nay là áp dụng mạnh mẽ hơn khoa học công nghệ, công nghệ xanh, các phương pháp, kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến để vừa đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ, vừa đạt hiệu quả bền vững.

Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương hoàn thành báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược, chiến lược phát triển ngành để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định. Cùng với đó, rà soát số liệu, tăng cường năng lực hệ thống thông tin, số liệu dự báo ngành để cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết về sản xuất, giá cả thị trường cho doanh nghiệp và người dân.

Nguyên Linh

(Theo CAND)


(Theo website Hoàng Trung Hải)

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011

Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải: Quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc


Theo Quyết định 1883/QĐ-TTg của Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải, Quy hoạch chung đô thị Vĩnh Phúc, tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 được lập trên phạm vi tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 31.860 ha.

Một góc thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc

Một góc thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc

Cụ thể, phạm vi lập Quy hoạch chung đô thị Vĩnh Phúc bao gồm: Thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên, huyện Bình Xuyên, một phần các huyện Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương, Tam Đảo.

Đây là trung tâm chính trị – hành chính của tỉnh Vĩnh Phúc, đồng thời cũng là một trong những trung tâm kinh tế lớn của vùng Thủ đô Hà Nội và cả nước với các ngành chủ đạo là: Công nghiệp, dịch vụ, đào tạo – khoa học và du lịch – nghỉ dưỡng; là trung tâm văn hóa, đầu mối giao thông, giao lưu quan trọng của vùng Thủ đô, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cả nước và quốc tế.

Dự báo quy mô dân số đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2020 đạt khoảng 660.000 người, diện tích đất xây dựng đô thị là 19.330 ha. Đến năm 2030, dân số đạt khoảng 1 triệu người; diện tích đất xây dựng đô thị là 31.860 ha.

Hướng phát triển đô thị gắn kết với vùng Thủ đô Hà Nội

Hướng phát triển đô thị Vĩnh Phúc là gắn kết với vùng Thủ đô Hà Nội, lấy thành phố Vĩnh Yên và thị xã Phúc Yên làm trung tâm, từ đó mở rộng phạm vi đô thị hóa ra các vùng lân cận.

Theo quy hoạch, trọng điểm giáo dục, giao lưu của đô thị Vĩnh Phúc là ở phía Bắc thành phố Vĩnh Yên và ở thị xã Phúc Yên. Trọng điểm lưu thông hàng hóa phía Đông Tây thành phố Vĩnh Yên. Trọng điểm du lịch nghỉ ngơi hồ Đầm Vạc và Đại Lải. Trọng điểm nước và cây xanh phía Nam thành phố Vĩnh Yên.

Quy hoạch cũng chỉ rõ các trục và ba vùng chức năng đô thị Vĩnh Phúc. Cụ thể, trục liên kết vùng gồm: Đường cao tốc nối trung tâm Hà Nội với Lào Cai; đường vành đai 5 Hà Nội nối Thái Nguyên, Sơn Tây và đường sắt Hà Nội – Lào Cai.

Trục liên kết đô thị gồm: Quốc lộ 2B, quốc lộ 2C nối Tam Đảo, Hợp Hòa với trung tâm đô thị Vĩnh Phúc; tỉnh lộ 305 nối với Lập Thạch, Yên Lạc; các trục đường phố nối thành phố Vĩnh Yên – thị xã Phúc Yên…

Ba vùng chức năng của đô thị Vĩnh Phúc là: Vùng các khu trung tâm thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên, vùng các khu dân cư và vùng các khu công nghiệp tập trung phía Tây Bắc và phía Đông Bắc, Đông Nam của đô thị Vĩnh Phúc.

Tuệ Văn

(theo chinhphu)


(Theo website Hoàng Trung Hải)

Thứ Năm, 29 tháng 9, 2011

Ông Hoàng Trung Hải phê duyệt quy hoạch Vành đai 3 và 4 TPHCM


Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã phê duyệt quy hoạch chi tiết đường Vành đai 3 và đường Vành đai 3 – thành phố Hồ Chí Minh với tổng vốn đầu tư khoảng 154.342 tỷ đồng.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Theo Quy hoạch, đường Vành đai 3 đi qua địa giới hành chính của 8 quận, huyện thuộc 4 tỉnh, thành phố là: Thành phố Hồ Chí Minh (quận 9, 3 huyện: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh); tỉnh Đồng Nai (huyện Nhơn Trạch); tỉnh Bình Dương (huyện Dĩ An, huyện Thuận An); tỉnh Long An (huyện Bến Lức).

Tổng chiều dài đường Vành đai 3 khoảng 89,3km, trong đó làm mới khoảng 73km; đoạn Mỹ Phước – Tân Vạn dài 16,3 km hiện đang được tỉnh Bình Dương đầu tư.

Đường Vành đai 4 đi qua địa giới hành chính của 12 huyện thuộc 5 tỉnh, thành phố: Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (huyện Tân Thành); tỉnh Đồng Nai (3 huyện: Long Thành, Trảng Bom, Vĩnh Cửu); tỉnh Bình Dương (2 huyện: Tân Uyên, Bến Cát); TP Hồ Chí Minh (huyện Củ Chi, huyện Nhà Bè); tỉnh Long An (4 huyện: Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc).

Tổng chiều dài tuyến đường Vành đai 4 khoảng 197,6 km.

Đường cao tốc Vành đai 3 và Vành đai 4 có quy mô là đường cao tốc với mặt cắt ngang 6 – 8 làn xe cao tốc có đường song hành hai bên và các hành lang để bố trí cây xanh, các công trình hạ tầng kỹ thuật, dự trữ mở rộng. Tổng chiều rộng mặt cắt ngang lớn nhất khoảng 121,5m.

Đường song hành quy mô có ít nhất 2 làn xe. Đường song hành được đầu tư phân kỳ tùy theo nhu cầu vận tải và sự phát triển các đô thị hai bên.

Tiến độ xây dựng đường vành đai theo từng đoạn tuyến

Về tiến độ xây dựng đường vành đai 3, trước năm 2017 sẽ hoàn thành đoạn cao tốc Bến Lức – Long Thành (Nhơn Trạch) – quốc lộ 1A (Tân Vạn); trước năm 2019 hoàn thành đoạn quốc lộ 22 – cao tốc TP Hồ Chí Minh – Trung Lương; và trước năm 2020 hoàn thành đoạn Bình Chuẩn – quốc lộ 22.

Đối với đường vành đai 4, đoạn Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (giao với đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu) đến Trảng Bom – Đồng Nai (quốc lộ 1A) tiến độ đặt ra là phải hoàn thành trước năm 2020; từ quốc lộ 1A (Trảng Bom – Đồng Nai) đến quốc lộ 13 (Tân Uyên – Bình Dương) hoàn thành trước 2025; đoạn quốc lộ 13 (Tân Uyên – Bình Dương) đến quốc lộ 22 (Củ Chi – TP Hồ Chí Minh) hoàn thành trước 2024; đoạn quốc lộ 22 (Củ Chi – TP Hồ Chí Minh) đến cao tốc TP Hồ Chí Minh – Trung Lương (Bến Lức – Long An) hoàn thành trước 2023 và đoạn Bến Lức – Long An (giao với cao tốc TP Hồ Chí Minh – Trung Lương) đến cuối tuyến trục Bắc – Nam TP Hồ Chí Minh (cảng Hiệp Phước – TP Hồ Chí Minh) hoàn thành trước 2017.

Việc quy hoạch chi tiết đường Vành đai 3 và đường Vành đai 4 là cơ sở để xác định mốc lộ giới cho các địa phương triển khai các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch khác có liên quan đến tuyến đường.

Bên cạnh đó, liên kết các tuyến đường bộ cao tốc, các quốc lộ hướng tâm đã và đang triển khai để phát huy hiệu quả các tuyến đường này, góp phần giảm tình trạng ùn tắc giao thông khu vực nội đô, tạo điều kiện phát triển dịch vụ vận tải liên vùng.

Hoàng Diên

(Theo chinhphu)


(Theo website Hoàng Trung Hải)

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải quyết định Quy hoạch công nghiệp xi măng


Theo Quyết định 1488/QĐ-TTg của Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải, định hướng phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bền vững, có công nghệ tiên tiến, sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường; tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu và tiêu hao năng lượng thấp; bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên.

Phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bền vững, có công nghệ tiên tiến

Phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bền vững, có công nghệ tiên tiến

Cuối năm 2015, hoàn thành chuyển đổi công nghệ sản xuất xi măng từ lò đứng sang lò quay

Theo Quy hoạch này, các dự án xi măng đầu tư mới (ký hợp đồng cung cấp thiết bị từ ngày Quyết định 1488/QĐ-TTg có  hiệu lực – 29/8/2011) có công suất lò nung từ 2.500 tấn clanhke/ngày trở lên, phải đầu tư ngay hệ thống thiết bị tận dụng nhiệt khí thải để phát điện, trừ các dây truyền sản xuất xi măng sử dụng chất thải công nghiệp và rác thải làm nhiên liệu.

Đối với các nhà máy xi măng đang hoạt động, các dự án xi măng đăng triển khai đầu tư nhưng đã ký hợp đồng cung cấp thiết bị trước ngày 29/8/2011 phải hoàn thành đầu tư hệ thống thiết bị tận dụng nhiệt khí thải để phát điện trước năm 2015.

Đối với các nhà máy xi măng có công suất dưới 2.500 tấn clanhke/ngày, khuyến khích nghiên cứu đầu tư hệ thống thiết bị tận dụng nhiệt khí thải để phát điện.

Đến cuối năm 2015 hoàn thành chuyển đổi công nghệ sản xuất xi măng từ lò đứng sang lò quay.

Hạn chế đầu tư dự án xi măng ở vùng khó khăn, ảnh hưởng đến di sản văn hóa, du lịch

Về bố trí quy hoạch, ưu tiên đầu tư các dự án xi măng ở các tỉnh phía Nam, các vùng có điều kiện thuận lợi về nguyên liệu, có điều kiện phát triển công nghiệp, có điều kiện hạ tầng giao thông.

Đồng thời, hạn chế đầu tư các dự án xi măng ở những vùng có khó khăn về nguyên liệu, ảnh hưởng đến các di sản văn hóa, phát triển du lịch.

Dự báo nhu cầu xi măng năm 2011 là 54 – 55 triệu tấn; năm 2015 là 75 – 76 triệu tấn; năm 2020 là 93 – 95 triệu tấn; năm 2030 đạt 113 – 115 triệu tấn.

Giai đoạn 2011 – 2015, dự kiến có 32 dự án xi măng vận hành; 22 dự án xi măng dự kiến đầu tư trong giai đoạn 2016 – 2020; 6 dự án xi măng định hướng đầu tư trong giai đoạn 2021 – 2030

Hoàng Diên


(Theo website Hoàng Trung Hải)

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải: Quy hoạch điện khuyến khích vốn ngoài ngân sách


Trong bối cảnh vốn đầu tư khó khăn, việc triển khai các dự án nguồn, lưới trong Quy hoạch điện VII sẽ đặc biệt chú trọng, khuyến khích đa dạng hóa các dòng vốn từ xã hội, chuyển dịch mạnh cơ cấu đầu tư so với trước đây.

Đây là tinh thần được Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nêu rõ khi chủ trì cuộc họp Ban chỉ đạo Nhà nước về tình hình triển khai thực hiện các Quy hoạch điện trong giai đoạn 2006-2011 và 2011-2020, có xét đến 2030.

hoang-trung-hai

Trong bối cảnh chung của nền kinh tế, việc thực hiện các dự án điện gặp nhiều khó khăn và Nhà nước phải có những giải pháp cần thiết để tháo gỡ

“Khó càng thêm khó”

Theo phản ánh từ các cơ quan quản lý, chủ đầu tư trong cuộc họp, vốn tiếp tục là bài toán khó để hoàn thành những dự án điện theo Quy hoạch điện VI cũng như bắt tay vào triển khai các kế hoạch trong Quy hoạch điện VII.

Nhiều dự án nguồn đã và đang triển khai bị kéo lùi tiến độ do không có vốn để thực hiện. Bên cạnh đó, việc đền bù, giải phóng mặt bằng, di dân tái định cư tiếp tục là nguyên nhân chính cản trở tiến độ đưa vào vận hành các nhà máy điện.

Trong khi đó, giá mua điện từ các dự án nguồn điện, kể cả IPP (nguồn độc lập) cũng như BOT (xây dựng – khai thác – chuyển giao) còn thấp, đàm phán mua bán điện kéo dài, chưa hấp dẫn với các chủ đầu tư.

Tương tự, các dự án lưới điện được phản ánh cũng gặp nhiều khó khăn do nguồn lực, giá truyền tải, giá bán lẻ thấp dẫn đến năng lực tài chính của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia cũng như các đơn vị phân phối điện không đảm bảo khả năng đầu tư hoặc vay vốn.

Triển khai Quy hoạch Điện VII vừa được phê duyệt, một loạt các dự án cũng đứng trước thách thức lớn về bài toán vốn đầu tư.

Theo đánh giá chung, trong bối cảnh chung của nền kinh tế, việc thực hiện các dự án điện theo các quy hoạch đã khó lại càng thêm khó. Tuy nhiên, là ngành đầu vào thiết yếu của xã hội, Nhà nước phải có những giải pháp cần thiết tháo gỡ khó khăn, đảm bảo điện phục vụ phát triển.

Tạo điều kiện tối đa

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải khẳng định, trong triển khai Quy hoạch điện 10 năm tới sẽ đặc biệt chú trọng, khuyến khích đa dạng hóa các dòng vốn từ xã hội, chuyển dịch mạnh cơ cấu đầu tư so với trước đây.

Các dự án điện IPP, BOT và cả BOO (đầu tư – khai thác – sở hữu) sẽ ngày càng phải chiếm tỷ trọng lớn. Nhà nước sẽ tạo điều kiện tối đa để triển khai các dự án đầu tư xây dựng nguồn điện không sử dụng vốn NSNN để đầu tư, khai thác và bán điện theo quy định của pháp luật về điện lực.

Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương sớm trình Đề án huy động vốn để triển khai Quy hoạch, trên cơ sở giám sát, đánh giá chặt chẽ và dự báo đúng đắn về tình hình cung – cầu điện, tiến độ thực hiện các dự án để kiến nghị quyết định về tiến độ các dự án trong Quy hoạch được duyệt.

hoang-trung-hai

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho biết Nhà nước sẽ tạo điều kiện tối đa để triển khai các dự án đầu tư xây dựng nguồn điện không sử dụng vốn NSNN. -

Bên cạnh đó, đối với các dự án điện đang triển khai theo quy hoạch, tập trung tháo gỡ các vướng mắc, hạn chế việc chậm, lùi tiến độ, kiên quyết xử lý các trường hợp dự án không hiệu quả, chủ đầu tư yếu năng lực. Để tháo gỡ, Phó Thủ tướng cho ý kiến cụ thể về việc cấp bảo lãnh vay, thu xếp vốn và giải ngân từ các ngân hàng,… đối với một số dự án nguồn trọng điểm.

Phó Thủ tướng cũng lưu ý việc rà soát quy hoạch các dự án thủy điện hiện nay, xử lý vấn đề diện tích sử dụng đất, hoàn nguyên rừng, môi trường sau khi triển khai dự án. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo, tuyên truyền tiết kiệm điện.

Nguyên Linh


(Theo website Hoàng Trung Hải)

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải: Quy hoạch điện khuyến khích vốn ngoài ngân sách


Trong bối cảnh vốn đầu tư khó khăn, việc triển khai các dự án nguồn, lưới trong Quy hoạch điện VII sẽ đặc biệt chú trọng, khuyến khích đa dạng hóa các dòng vốn từ xã hội, chuyển dịch mạnh cơ cấu đầu tư so với trước đây.

Đây là tinh thần được Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nêu rõ khi chủ trì cuộc họp Ban chỉ đạo Nhà nước về tình hình triển khai thực hiện các Quy hoạch điện trong giai đoạn 2006-2011 và 2011-2020, có xét đến 2030.

hoang-trung-hai

Trong bối cảnh chung của nền kinh tế, việc thực hiện các dự án điện gặp nhiều khó khăn và Nhà nước phải có những giải pháp cần thiết để tháo gỡ

“Khó càng thêm khó”

Theo phản ánh từ các cơ quan quản lý, chủ đầu tư trong cuộc họp, vốn tiếp tục là bài toán khó để hoàn thành những dự án điện theo Quy hoạch điện VI cũng như bắt tay vào triển khai các kế hoạch trong Quy hoạch điện VII.

Nhiều dự án nguồn đã và đang triển khai bị kéo lùi tiến độ do không có vốn để thực hiện. Bên cạnh đó, việc đền bù, giải phóng mặt bằng, di dân tái định cư tiếp tục là nguyên nhân chính cản trở tiến độ đưa vào vận hành các nhà máy điện.

Trong khi đó, giá mua điện từ các dự án nguồn điện, kể cả IPP (nguồn độc lập) cũng như BOT (xây dựng – khai thác – chuyển giao) còn thấp, đàm phán mua bán điện kéo dài, chưa hấp dẫn với các chủ đầu tư.

Tương tự, các dự án lưới điện được phản ánh cũng gặp nhiều khó khăn do nguồn lực, giá truyền tải, giá bán lẻ thấp dẫn đến năng lực tài chính của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia cũng như các đơn vị phân phối điện không đảm bảo khả năng đầu tư hoặc vay vốn.

Triển khai Quy hoạch Điện VII vừa được phê duyệt, một loạt các dự án cũng đứng trước thách thức lớn về bài toán vốn đầu tư.

Theo đánh giá chung, trong bối cảnh chung của nền kinh tế, việc thực hiện các dự án điện theo các quy hoạch đã khó lại càng thêm khó. Tuy nhiên, là ngành đầu vào thiết yếu của xã hội, Nhà nước phải có những giải pháp cần thiết tháo gỡ khó khăn, đảm bảo điện phục vụ phát triển.

Tạo điều kiện tối đa

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải khẳng định, trong triển khai Quy hoạch điện 10 năm tới sẽ đặc biệt chú trọng, khuyến khích đa dạng hóa các dòng vốn từ xã hội, chuyển dịch mạnh cơ cấu đầu tư so với trước đây.

Các dự án điện IPP, BOT và cả BOO (đầu tư – khai thác – sở hữu) sẽ ngày càng phải chiếm tỷ trọng lớn. Nhà nước sẽ tạo điều kiện tối đa để triển khai các dự án đầu tư xây dựng nguồn điện không sử dụng vốn NSNN để đầu tư, khai thác và bán điện theo quy định của pháp luật về điện lực.

Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương sớm trình Đề án huy động vốn để triển khai Quy hoạch, trên cơ sở giám sát, đánh giá chặt chẽ và dự báo đúng đắn về tình hình cung – cầu điện, tiến độ thực hiện các dự án để kiến nghị quyết định về tiến độ các dự án trong Quy hoạch được duyệt.

hoang-trung-hai

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho biết Nhà nước sẽ tạo điều kiện tối đa để triển khai các dự án đầu tư xây dựng nguồn điện không sử dụng vốn NSNN. -

Bên cạnh đó, đối với các dự án điện đang triển khai theo quy hoạch, tập trung tháo gỡ các vướng mắc, hạn chế việc chậm, lùi tiến độ, kiên quyết xử lý các trường hợp dự án không hiệu quả, chủ đầu tư yếu năng lực. Để tháo gỡ, Phó Thủ tướng cho ý kiến cụ thể về việc cấp bảo lãnh vay, thu xếp vốn và giải ngân từ các ngân hàng,… đối với một số dự án nguồn trọng điểm.

Phó Thủ tướng cũng lưu ý việc rà soát quy hoạch các dự án thủy điện hiện nay, xử lý vấn đề diện tích sử dụng đất, hoàn nguyên rừng, môi trường sau khi triển khai dự án. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo, tuyên truyền tiết kiệm điện.

Nguyên Linh


(Theo website Hoàng Trung Hải)

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải: Quy hoạch điện khuyến khích vốn ngoài ngân sách


Trong bối cảnh vốn đầu tư khó khăn, việc triển khai các dự án nguồn, lưới trong Quy hoạch điện VII sẽ đặc biệt chú trọng, khuyến khích đa dạng hóa các dòng vốn từ xã hội, chuyển dịch mạnh cơ cấu đầu tư so với trước đây.

Đây là tinh thần được Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nêu rõ khi chủ trì cuộc họp Ban chỉ đạo Nhà nước về tình hình triển khai thực hiện các Quy hoạch điện trong giai đoạn 2006-2011 và 2011-2020, có xét đến 2030.

hoang-trung-hai

Trong bối cảnh chung của nền kinh tế, việc thực hiện các dự án điện gặp nhiều khó khăn và Nhà nước phải có những giải pháp cần thiết để tháo gỡ

“Khó càng thêm khó”

Theo phản ánh từ các cơ quan quản lý, chủ đầu tư trong cuộc họp, vốn tiếp tục là bài toán khó để hoàn thành những dự án điện theo Quy hoạch điện VI cũng như bắt tay vào triển khai các kế hoạch trong Quy hoạch điện VII.

Nhiều dự án nguồn đã và đang triển khai bị kéo lùi tiến độ do không có vốn để thực hiện. Bên cạnh đó, việc đền bù, giải phóng mặt bằng, di dân tái định cư tiếp tục là nguyên nhân chính cản trở tiến độ đưa vào vận hành các nhà máy điện.

Trong khi đó, giá mua điện từ các dự án nguồn điện, kể cả IPP (nguồn độc lập) cũng như BOT (xây dựng – khai thác – chuyển giao) còn thấp, đàm phán mua bán điện kéo dài, chưa hấp dẫn với các chủ đầu tư.

Tương tự, các dự án lưới điện được phản ánh cũng gặp nhiều khó khăn do nguồn lực, giá truyền tải, giá bán lẻ thấp dẫn đến năng lực tài chính của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia cũng như các đơn vị phân phối điện không đảm bảo khả năng đầu tư hoặc vay vốn.

Triển khai Quy hoạch Điện VII vừa được phê duyệt, một loạt các dự án cũng đứng trước thách thức lớn về bài toán vốn đầu tư.

Theo đánh giá chung, trong bối cảnh chung của nền kinh tế, việc thực hiện các dự án điện theo các quy hoạch đã khó lại càng thêm khó. Tuy nhiên, là ngành đầu vào thiết yếu của xã hội, Nhà nước phải có những giải pháp cần thiết tháo gỡ khó khăn, đảm bảo điện phục vụ phát triển.

Tạo điều kiện tối đa

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải khẳng định, trong triển khai Quy hoạch điện 10 năm tới sẽ đặc biệt chú trọng, khuyến khích đa dạng hóa các dòng vốn từ xã hội, chuyển dịch mạnh cơ cấu đầu tư so với trước đây.

Các dự án điện IPP, BOT và cả BOO (đầu tư – khai thác – sở hữu) sẽ ngày càng phải chiếm tỷ trọng lớn. Nhà nước sẽ tạo điều kiện tối đa để triển khai các dự án đầu tư xây dựng nguồn điện không sử dụng vốn NSNN để đầu tư, khai thác và bán điện theo quy định của pháp luật về điện lực.

Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương sớm trình Đề án huy động vốn để triển khai Quy hoạch, trên cơ sở giám sát, đánh giá chặt chẽ và dự báo đúng đắn về tình hình cung – cầu điện, tiến độ thực hiện các dự án để kiến nghị quyết định về tiến độ các dự án trong Quy hoạch được duyệt.

hoang-trung-hai

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho biết Nhà nước sẽ tạo điều kiện tối đa để triển khai các dự án đầu tư xây dựng nguồn điện không sử dụng vốn NSNN. -

Bên cạnh đó, đối với các dự án điện đang triển khai theo quy hoạch, tập trung tháo gỡ các vướng mắc, hạn chế việc chậm, lùi tiến độ, kiên quyết xử lý các trường hợp dự án không hiệu quả, chủ đầu tư yếu năng lực. Để tháo gỡ, Phó Thủ tướng cho ý kiến cụ thể về việc cấp bảo lãnh vay, thu xếp vốn và giải ngân từ các ngân hàng,… đối với một số dự án nguồn trọng điểm.

Phó Thủ tướng cũng lưu ý việc rà soát quy hoạch các dự án thủy điện hiện nay, xử lý vấn đề diện tích sử dụng đất, hoàn nguyên rừng, môi trường sau khi triển khai dự án. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo, tuyên truyền tiết kiệm điện.

Nguyên Linh


(Theo website Hoàng Trung Hải)

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải: Quy hoạch điện khuyến khích vốn ngoài ngân sách


Trong bối cảnh vốn đầu tư khó khăn, việc triển khai các dự án nguồn, lưới trong Quy hoạch điện VII sẽ đặc biệt chú trọng, khuyến khích đa dạng hóa các dòng vốn từ xã hội, chuyển dịch mạnh cơ cấu đầu tư so với trước đây.

Đây là tinh thần được Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nêu rõ khi chủ trì cuộc họp Ban chỉ đạo Nhà nước về tình hình triển khai thực hiện các Quy hoạch điện trong giai đoạn 2006-2011 và 2011-2020, có xét đến 2030.

hoang-trung-hai

Trong bối cảnh chung của nền kinh tế, việc thực hiện các dự án điện gặp nhiều khó khăn và Nhà nước phải có những giải pháp cần thiết để tháo gỡ

“Khó càng thêm khó”

Theo phản ánh từ các cơ quan quản lý, chủ đầu tư trong cuộc họp, vốn tiếp tục là bài toán khó để hoàn thành những dự án điện theo Quy hoạch điện VI cũng như bắt tay vào triển khai các kế hoạch trong Quy hoạch điện VII.

Nhiều dự án nguồn đã và đang triển khai bị kéo lùi tiến độ do không có vốn để thực hiện. Bên cạnh đó, việc đền bù, giải phóng mặt bằng, di dân tái định cư tiếp tục là nguyên nhân chính cản trở tiến độ đưa vào vận hành các nhà máy điện.

Trong khi đó, giá mua điện từ các dự án nguồn điện, kể cả IPP (nguồn độc lập) cũng như BOT (xây dựng – khai thác – chuyển giao) còn thấp, đàm phán mua bán điện kéo dài, chưa hấp dẫn với các chủ đầu tư.

Tương tự, các dự án lưới điện được phản ánh cũng gặp nhiều khó khăn do nguồn lực, giá truyền tải, giá bán lẻ thấp dẫn đến năng lực tài chính của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia cũng như các đơn vị phân phối điện không đảm bảo khả năng đầu tư hoặc vay vốn.

Triển khai Quy hoạch Điện VII vừa được phê duyệt, một loạt các dự án cũng đứng trước thách thức lớn về bài toán vốn đầu tư.

Theo đánh giá chung, trong bối cảnh chung của nền kinh tế, việc thực hiện các dự án điện theo các quy hoạch đã khó lại càng thêm khó. Tuy nhiên, là ngành đầu vào thiết yếu của xã hội, Nhà nước phải có những giải pháp cần thiết tháo gỡ khó khăn, đảm bảo điện phục vụ phát triển.

Tạo điều kiện tối đa

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải khẳng định, trong triển khai Quy hoạch điện 10 năm tới sẽ đặc biệt chú trọng, khuyến khích đa dạng hóa các dòng vốn từ xã hội, chuyển dịch mạnh cơ cấu đầu tư so với trước đây.

Các dự án điện IPP, BOT và cả BOO (đầu tư – khai thác – sở hữu) sẽ ngày càng phải chiếm tỷ trọng lớn. Nhà nước sẽ tạo điều kiện tối đa để triển khai các dự án đầu tư xây dựng nguồn điện không sử dụng vốn NSNN để đầu tư, khai thác và bán điện theo quy định của pháp luật về điện lực.

Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương sớm trình Đề án huy động vốn để triển khai Quy hoạch, trên cơ sở giám sát, đánh giá chặt chẽ và dự báo đúng đắn về tình hình cung – cầu điện, tiến độ thực hiện các dự án để kiến nghị quyết định về tiến độ các dự án trong Quy hoạch được duyệt.

hoang-trung-hai

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho biết Nhà nước sẽ tạo điều kiện tối đa để triển khai các dự án đầu tư xây dựng nguồn điện không sử dụng vốn NSNN. -

Bên cạnh đó, đối với các dự án điện đang triển khai theo quy hoạch, tập trung tháo gỡ các vướng mắc, hạn chế việc chậm, lùi tiến độ, kiên quyết xử lý các trường hợp dự án không hiệu quả, chủ đầu tư yếu năng lực. Để tháo gỡ, Phó Thủ tướng cho ý kiến cụ thể về việc cấp bảo lãnh vay, thu xếp vốn và giải ngân từ các ngân hàng,… đối với một số dự án nguồn trọng điểm.

Phó Thủ tướng cũng lưu ý việc rà soát quy hoạch các dự án thủy điện hiện nay, xử lý vấn đề diện tích sử dụng đất, hoàn nguyên rừng, môi trường sau khi triển khai dự án. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo, tuyên truyền tiết kiệm điện.

Nguyên Linh


(Theo website Hoàng Trung Hải)